Đề Xuất 1/2023 # Truyền Thống An Cư Trong Đạo Phật (Song Ngữ) # Top 7 Like | Duhoceden.com

Đề Xuất 1/2023 # Truyền Thống An Cư Trong Đạo Phật (Song Ngữ) # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Truyền Thống An Cư Trong Đạo Phật (Song Ngữ) mới nhất trên website Duhoceden.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo lời Phật dạy, trong mùa An Cư kiết hạ, khi Chúng xuất sĩ tu tập, học pháp, và hành pháp, thì Chúng cư sĩ cũng tu tập, học pháp, và hành pháp, đặc biệt là hộ trì chánh pháp.

An Cư là nét đẹp, nét truyền thống đặc thù của đạo Phật, có mặt tại Ấn Độ trên hàng nghìn năm. An Cư là một dịp tốt, thuận tiện, và thích hợp cho các hàng đệ tử của đức Thế Tôn gặp mặt với nhau, vun trồng giới đức, trau giồi đạo hạnh, xây dựng tình huynh đệ, tình pháp lữ đồng tu trong tinh thần tập thể, hòa hợp, đoàn kết, tương trợ, tương thân, tương ái, và tương kính theo đúng con đường Giới, Định, và Tuệ.

Ban đầu, An Cư là một tập tục và truyền thốngchung cho các vị tu sĩ và ẩn sĩ của các giáo pháivà các tôn giáo khác nhau ở Ấn Độ cổ đại. Sau đó, An Cư được đức Phật và các hàng đệ tử của Người khéo tiếp nhận, chọn lọc, duy trì, phát triển, áp dụng, và thực hành phù hợp với Phật pháp từ thời đó cho tới ngày hôm nay.

An Cư là một từ ghép của âm Hán Việt; nghĩa đen của An có nghĩa là yên tĩnh, là yên lặng, là dừng lại…, và nghĩa bóng của An có nghĩa là tập trung, là có mặt, là hiện diện, …; Chữ Cư có nghĩa là chỗ, là trú xứ, là nơi chốn, là Già lam, là Trung tâm tu học, là bây giờ và ở đây, v. v … Vậy, An Cư có nghĩa là các hành giả cùng nhau có mặt tại nhiều trú xứ Già lam khác nhau trong các địa phương và quốc độkhác nhau trong tinh thần tinh tấn, an lạc, hòa hợp, và đoàn kết để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm tu tập, và nếm được pháp học, pháp đàm, pháp hành, pháp lạc, v. v …

Nhìn về các khía cạnh khác của lịch sử Phật giáo kéo dàn gần ba nghìn năm, chúng ta có thể tìm hiểuthêm nguyên do của việc An Cư được Đức Thế Tôn và các đệ tử của Ngài chọn và thanh lọc như sau:

Sau khi đức Phật giác ngộ viên mãn dưới cây Bồ đề ( Bodhi), và sau khi Phạm thiên ba lần thỉnh cầu đức Phật trụ thế ở đời để giảng dạy Phật pháp cho chúng sinh. Đức Phật đồng ý chấp nhậncác lời thỉnh cầu của Phạm thiên, và bắt đầu chuyển vận bánh xe chánh pháp tại Vườn Nai – Lộc Uyển( Sarnath). Ban đầu, Đức Phật hóa độ 5 anh em của tôn giả A Nhã Kiều Trần Như ( Kondañña) làm đệ tử.[2] Sau đó, Da Sá, gia đình Da Sá, bạn bè của Da Sá, v. v… cũng được đức Phật độ làm đệ tửbằng cách đọc lên 3 nương tựa: Nương tựa Phật, nương tựa Pháp, và nương tựa Tăng.[3] Với năng lựctu tập, từ bi và trí tuệ, uy nghi, và uy tín của Ngài, đức Phật thu nhiếp và giáo hóa rất nhiều hạng người khác nhau không phân biệt giai cấp, tôn giáo, màu da, và chủng tộc.

Tuy nhiên, khi các vị đệ tử của đức Phật càng ngày càng nhiều, trong Tăng đoàn, có vài vị bất hảo, đặc biệt là nhóm sáu vị Tỳ kheo, suy nghĩ, nói năng, và hành động thiếu chánh niệm và tỉnh giác, họ đi ra đường và dẫm đạp các côn trùng trong mùa xuân, mùa hạ, và mùa đông. Lúc đó, những người Phật tửvà không phải Phật tử chê bai hành vi của họ và nói: ” Các vị đệ tử của Sa Môn Cồ Đàm du hành trong khắp nhân gian, dẫm đạp các côn trùng, không có thời gian dừng lại một chỗ để tu tập.“[4] Khi nghe việc này, đức Phật dạy bảo các đệ tử của Ngài mỗi năm phải tổ chức An Cư kiết hạ theo thời tiết và khí hậu ở các vùng và quốc độ khác nhau cho thích hợp.

Thực vậy, An Cư kiết hạ là dịp tốt nhất để mỗi hành giả phát triển nội tâm, tu tập Giới, Định, và Tuệ, xây dựng Tăng thân, pháp thân, và Phật thân, làm ruộng phước tốt nhất cho các hàng Phật tử tại gia gieo trồng.

Theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền, thời gian An cư kiết hạ thường diễn ra vào sau tuần lễ Phật Đản. Thông thường, nó gồm có 3 tháng, bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, kéo dài tới ngày 16 tháng 7 âm lịch. Theo truyền thống Nam truyền, thời gian An Cư cũng gồm có 3 tháng, bắt đầu từ ngày 16 tháng 6 tới ngày 16 tháng 9 âm lịch.

Tuy nhiên, ở xã hội phương Tây như nước Mỹ, Pháp, Anh, Đức, v. v …, tùy theo quốc độ, trú xứ, và địa phương khác nhau, các hành giả An Cư của các Tự viện và của các truyền thống Phật giáo khác nhau có thể tổ chức thời gian An Cư cho thích hợp.

Ví dụ, khi khóa An Cư khai hạ vào sáng ngày 16 tháng 4, các hành giả An cư phải tranh thủ có mặt một ngày hoặc trước đó, để nghỉ ngơi và để nhận biết chỗ ăn, chỗ ở, chỗ ngủ nghỉ, v. v… tại nơi trú xứ mà mình tham gia An cư.

Lúc bắt đầu thời gian An Cư, khi tụ tập tại một trú xứ An Cư thích hợp, các hành giả có một cuộc họp vui vẻ để tổ chức chương trình và thời gian tu học, như giảng pháp, tụng Giới, tụng Kinh, niệm Phật, thiền hành, thiền tọa, v. v… Vào đầu giờ của ngày An Cư đầu tiên, các hành giả An Cư tiến hành một buổi Lễ đối thú – đối thú có nghĩa là người này đối mặt với người kia và đọc lên những lời tác bạch tâm nguyện tu học của mình cho mỗi người nghe, thấy, và biết cách để chỉ bảo thêm, và ngược lại, người kia cũng làm như vậy.

Tại trú xứ An Cư, các hành giả An Cư cung thỉnh Hòa thượng Thích Giáo Giới (the Most Venerable Preceptors of Precepts Teaching) làm vị luật Sư chứng minh buổi Lễ An Cư. Vị luật Sư này nương theo Đại chúng để nhắc nhở, dạy dỗ, khuyên bảo… Khi vị luật Sư chứng minh được Đại chúng chọn và thỉnh mời, ba vị hành giả An Cư lần lượt đi tới quỳ trước mặt Vị luật Sư, một trong 3 vị hành giả tác bạch và thưa rằng:

Tiếp theo, đại diện chúng An Cư, một vị hành giả đọc lớn lên các ranh giới của Già Lam An Cư như hướng Đông tính từ ngôi nhà Tinh Tấn; hướng Nam tính từ ngôi nhà Tu Tập; hướng Tây tính từ ngôi nhà Áp Dụng, và hướng Bắc tính từ ngôi nhà Thực Hành. Khi các ranh giới được quy định xong, trong quá trình tham gia An Cư, vị hành giả nào có công tác cá nhân hoặc của Tăng chúng, đi ra khỏi ranh giới An Cư, thì phải tác bạch trước Đại chúng như sau:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Kính bạch Hòa thượng và Đại chúng, Con pháp danh là Chánh Niệm, hôm nay con có công tác Phật sự, đi ra khỏi cương giới Già Lam An Cư khoảng 1 giờ, 1 buổi, 1 ngày… Khi xong công tác Phật sự, con trở về trú xứ An cư, tiếp tục nương Đại chúng để tu học. Ngưỡng mong Hòa thượng và Đại chúng hoan hỷ liễu tri!“[6]

Trong Khóa An Cư có Lễ Bố Tát ( Uposatha)[7]; trong buổi Lễ này, một vị hành giả được Đại chúng chọn để tụng giới pháp, các hành giả còn lại lắng nghe và ôn lại giới Pháp mà mình đã thọ. Kết thúc khóa An Cư, có buổi Lễ Tự Tứ (P. Pavāraṇā; âm Việt – Hán là Bát Hòa La 钵和羅);[8] Trong từ phiên âm Hán-Việt, Tự có nghĩa là mình, là chính mình; Tứ có nghĩa là thỉnh cầu, là soi sáng. Vậy Tự Tứ có nghĩa là tự nguyện, tự giác, phát lồ, và tự mình thỉnh cầu hành giả An Cư soi sáng cho mình những điểm ưu và những điểm khuyết ” được thấy, được nghe, và được nghi ” trong tinh thần hòa hợp và đoàn kết của cá nhân và của Đại chúng.

Khi những ưu điểm của mình được khen ngợi và tán dương, thì tự mình cố gắng duy trì, nuôi dưỡng, và phát triển thêm lên. Hoặc, khi những khuyết điểm của mình được nhắc nhở và chỉ bảo, thì tự mình ghi nhận, sửa đổi, chuyển hóa, và loại bỏ dần bằng cách sám hối với tự thân và với Đại chúng.

Thực vậy, sau khi Lễ Tự tứ xong, một vị đại diện trong Chúng hành giả An Cư đọc lên các ranh giới của Già Lam An Cư đã được đề cập hôm trước của ngày đầu An Cư, và nói rằng: ” Hôm nay là ngày giải chếra Hạ; giới trường tại trú xứ Già lam An Cư này được khai mở. Các hành giả An Cư có thể ra khỏi trú xứ An Cư phù hợp với cương giới mà trường hạ quy định. Nay xin kính trình lên Đại chúng hoan hỷ liễu tri. “[9]

Khi hiểu, áp dụng, và thực hành được như vậy, thì hành giả có thể gặt hái được những hoa trái an lạcvà hạnh phúc đích thực ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. Nhờ An Cư kiết hạ, nên mỗi hành giả có thêm một giai đoạn tu tập và công đức hành trì Phật pháp bằng cách nuôi dưỡng, tô bồi, và phát triển giới hạnh, đức hạnh, và đạo hạnh. Các năng lượng tu tập, thương yêu, hiểu biết, thông cảm, tha thứ, bao dung, độ lượng, an lạc, và hạnh phúc của Tăng đoàn đều tăng trưởng. Chư Phật, Chư hộ pháp, Chư thiện thần, và quý Phật tử đều rất hoan hỷ.

Ở điểm này, chúng ta tìm hiểu thêm về từ Tăng đoàn; tiếng Pāli của Tăng đoàn là Sangha; Sangha có nghĩa là hòa hợp và đoàn kết, chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi. Sangha có nghĩa là một Đoàn thể tu tập gồm 4 người trở lên. Sangha bao gồm 2 Chúng lớn: Chúng xuất sĩ và chúng cư sĩ; Chúng xuất sĩ gồm có quý sư thầy và quý sư cô; Chúng cư sĩ gồm có cư sĩ nam và cư sĩ nữ.

Theo lời Phật dạy, trong mùa An Cư kiết hạ, khi Chúng xuất sĩ tu tập, học pháp, và hành pháp, thì Chúng cư sĩ cũng tu tập, học pháp, và hành pháp, đặc biệt là hộ trì chánh pháp. Nương vào chiếc y vàng giải thoát và hình bóng an lạc của Tăng đoàn, ngoài việc học đạo, hiểu đạo, và hành đạo, Chúng cư sĩ còn phát tâm hộ trì chánh pháp bằng cách cúng dường bốn thứ: 1. Đồ mặt, 2. Đồ ngủ nghỉ như mền, gối, túi ngủ… 3. Thuốc men, và 4. Đồ ăn thức uống.

Sau khi khóa An Cư kiết hạ gần mãn, để tái tạo và nhìn thấy lại truyền thống và hình ảnh khất thực của đức Phật và Tăng đoàn, Chúng xuất sĩ, tức các hành giả An Cư đi khất thực quanh trú xứ để Chúng cư sĩ có dịp nuôi dưỡng và phát triển tâm thành bố thí và cúng dường tịnh tài và tịnh vật cho trú xứ và hành giả an Cư.

Khi hiểu và thực hành được như vậy, thì cả Chúng xuất sĩ và cư sĩ đều cùng nhau đi trên con đường an vui, giác ngộ, và giải thoát, và cùng nhau đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay tại thế gian này.

Như vậy, khi kết thúc khóa An Cư kiết hạ hằng năm, Chúng xuất sĩ trải nghiệm thêm một giai đoạn đạohạnh, đức hạnh, và tuệ hạnh. Trong khi đó, Chúng cư sĩ cũng đạt thêm công đức, ân đức, và tuệ đức. Cả hai Chúng này đều nương tựa và hỗ trợ với nhau như hình với bóng, như nước với sóng, và cùng nhau góp phần đưa đạo Phật đi về tương lai xán lạn huy hoàng trên khắp thế gian này.

Trong khi nỗ lực trình bày bài viết này một cách sơ lượt và tóm tắt, người viết không sao tránh khỏinhững thiếu sót, ngưỡng mong Chư tôn đức từ bi hoan hỷ chỉ giáo.

Cuối cùng, chúng con xin nguyện cầu hồng ân Tam Bảo, gia hộ cho quý vị xuất Sĩ và cư Sĩ, chư vị hộ pháp và hoằng pháp, cùng quý Phật tử gần xa, vô lượng an lạc, vô lượng kiết tường.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

The Tranquil Dwelling Tradition in Buddhism

The Tranquil Dwelling, which is a beautiful feature, a specifically traditional feature of Buddhism, has been present in India for more than thousands of years. The Tranquil Dwelling is a good, favorable, and appropriate opportunity for the World-Honored One’s disciples to meet together, to cultivate virtuous precepts, to improve pious behavior, to build brother/sisterhood, the sentiment of Dharma friends cultivating together in the spirit of collectivity, harmony, solidarity, interdependence, mutual affection, mutual love, and mutual respect, according to the right path of Virtue, Concentration, and Wisdom.

At first, the Tranquil Dwellingwas a general custom and tradition for monastics and hermits of the various sects and religions in ancient India. Later, the Tranquil Dwellingwas skillfully received, adopted, maintained, upheld, developed, applied, and practiced by the Buddha and His disciples in accordance with the Buddhadharma from that time to now.

An Cư (Tranquil Dwelling) is a compound word of Sino-Vietnamese; the literal sense of An means tranquility, quietness, stop, etc., and the figurative sense of the An means to gather together, to attend, to be present, etc.; The word Cư means place, dwelling, abode, Temple, Center of cultivation and learning, here and now, etc. Thus, An Cư means that practitioners gather together at many various Temples in different localities and countries in the spirits of diligence, peacefulness, harmony, and solidarity in order to exchange, to share the experience of cultivation, and to enjoy Dharma learning, Dharma talk, Dharma practice, Dharma joy, etc.

Looking at the various aspects of Buddhist history stretching back nearly three thousand years, we can learn more about the reason that Tranquil Dwelling was adopted and purified by the World-Honored One and His disciples:

After the Buddha had attained perfect enlightenment under the Bodhi tree, and after He had been entreated three times by Brahma to remain in the world in order to teach the Buddha Dharma to human beings. The Buddha agreed to accept Brahma’s requests, and started the first turning of the Dharma Wheel in the Deer Park at Sarnath. Initially, the Buddha taught the five brothers of the Honored Elder Kondañña to make His disciples.[11] After that, Dasa, whose family, friends, etc. were also taught by the Buddha, became His disciples by reading out three Refuges: Taking refuge in the Buddha, taking refuge in the Dharma, and taking refuge in the Sangha.[12] With the energies of His cultivation, loving-kindness, compassion and wisdom, majesty and prestige, the Buddha accepted and taught many different kinds of people irrespective of caste, religion, color, and race.

However, when the disciples of the Buddha became more and more numerous, within the Sangha there were several un-virtuous followers, especially a group of six monks, who, thinking, talking, and acting lack of mindfulness and awareness, went out on a road and stepped on insects in spring, summer, and winter. At that time, Buddhists and non Buddhists disparaged their beharior and said: ” Sramana Gautama’s disciples, who travel everywhere, step on insects, and do not have time to stop for a place to cultivate.“[13] When hearing this thing, the Lord Buddha taught His disciples to hold the Tranquil Dwelling of the Summer or Rains Retreat ( Vassa) every year according to the weather and climate in various regions and countries for suitability.

Indeed, the Tranquil Dwelling of the Summer or Rains Retreat ( Vassa) is the best opportunity for every practitioner to develop his or her inner mind, to practice Virtue, Concentration, and Wisdom, to build up the Sangha body, the Dharma body, and the Buddha body, to make the best merit field for lay Buddhists sow and plant.

According to the tradition of Mahayana Buddhism, t ime of the Tranquil Dwelling of the Summer or Rains Retreat (Vassa) usually occurs after Vesak Week. Normally, it consists of three months, starting from April 16, and lasting to July 16 of the lunar calender. According to the tradition of Theravada Buddhism, the Tranquil Dwelling time also consists of three months, starting from June 16, and ending to September 16 of the lunar calendar.

However, in Western societies such as the United States of America, France, England, Germany, etc., according to different countires, residences, and localities, the Tranquil Dwelling practitioners of Temples and of various Buddhist traditions are able to organize the Tranquil Dwelling time for suitability.

For example, when the Tranquil Dwelling Course opens the Summer or Rains Retreat ( Vassa) on April 16, the tranquil Dwelling practitioners must arrange to be present a day or so before, to rest and to recognize where to eat, where to stay, where to sleep, etc. in the residence where they attend the tranquil Dwelling.

” Dear the Most Venerable Preceptor of Precepts teaching. Our Dharma names are Harmony, Peacefulness, and Steadiness. Today at this Temple, we have enough good opportunity to take refuge in the majesty and virtue of the Most Venerable in order to join together with the Great Assembly to cultivate, to learn, and to live together in a period of 10 days, 15 days, or 90 days, etc. During the whole time of the Tranquil Dwelling, cultivation, and learning here, as Monastics, we are arranged according to the age of the precepts receiving, the Tranquil Dwelling of the Summer or Rains Retreat ( Vassa), and the merit of cultivation. Relying on the Dharma law, we receive accommodation, pillow, banket, sleeping bag, our seat position to have a mindful and traditional lunch with the Great Assembly. We respectfully expect the Most Venerable to joyfully approve and allow us to express our sincere hearts!“[14]

Next, representing the Tranquil Dwelling Assembly, a practitioner read out the boundaries of the Tranquil Dwelling Temple such as the East counted as a house of Diligence; the South counted as that of Cultivation; the West counted as that of Application; and the North counted as that of Practice. When the boundaries are completely specified, in the process of attending the Tranquil Dwelling, apractitioner has his or her individual mission, or mission of the Sangha, goes out of the Tranquil Dwelling boundaries, he or she must say these inviting words in front of the Great Assembly:

“Namo Original Master Sakyamuni Buddha, Dear the Most Venerable and Great Assembly, my Dharma name is Mindfulness, today I have a Buddhist activity, and must go out of the boundaries of the Tranquil Dwelling Temple about an hour, half a day, or a day, etc. When completing the Buddhist activity, I turn back to the Tranquil Dwelling residence, continue to take refuge in the Great Assembly to cultivate and to learn. Therefore, I respectfully expect the Most Venerable and the Great Assembly to happily approve my sincere speech!“[15]

In the Tranquil Dwelling Course there is a Ceremony of Uposatha.[16] In this Ceremony, a practitioner is chosen by the Great Assembly to read the Dharma precepts, the remaining practitioners listen and review the Dharma precepts they have received. At the end of the Tranquil Dwelling Course, there is a Ceremony of Tự Tứ (Pāli Pavāraṇā;[17] Chinese 钵和羅); in Chinese-Vietnamese transliteration word, Tự means I, myself, one, oneself; Tứ means invitation, illumination, or enlightenment. Thus, Tự Tứmeans voluntariness, self-awareness, confession, and one invites the Tranquil Dwelling practitioner to illuminate one’s strengths and weaknesses ” seen, heard, and suspected ” in the spirits of harmony and solidarity of the individual and the Great Assembly.

When one’s strengths are eulogized and praised, one tries to maintain, nurture, and develop them. Or, when one’s weaknesses are reminded and instructed, one accepts, corrects, transforms, and eliminates them step by step by doing penance by oneself and with the Great Assembly.

What is discussed above can be applied and practiced into the life of the Temple in every month once or twice. When monastics apply and practice the Buddha’s Dharma properly, they are not only happy, but their Master, Dharma brothers, and sisters are also happy. However, in the lives of family and couples, if parents, spouses, and children can apply and practice it well, each person becomes happy, his or her family and relatives also get happy.

When understanding, applying, and practicing like this, the practitioners can reap flowers and fruits of authentic peacefulness and happiness right here and right now in the present life. Thanks to the Tranquil Dwelling of the Summer or Rains Retreat ( Vassa), every practitioner has had one more stage to cultivate and merit to practice the Buddha Dharma by nurturing, beautifying, and developing the precepts of conduct, virtue of conduct, and piousness of conduct. The energies of cultivation, love, understanding, sympathy, forgiveness, tolerance, generosity, large-heartedness, peacefulness, and happiness of the Sangha have grown. The Buddhas, the Dharma guards, the good gods, and the Buddhists are very happy.

At this point, we learn more about the word Sangha; Sangha in Pāli means harmony and solidarity, mindfulness and awareness, steadiness and relaxation. Sangha means that a Congregation of cultivation consists 4 people or more. Sangha includes two big Assemblies: the Assembly of monastics and that of lay people; the Assembly of monastics consist Buddhist monks and nuns; that of lay people consist of lay men and lay women.

According to the Buddha’s teachings, in the Tranquil Dwelling season of the Summer or Rains Retreat ( Vassa), when the Assembly of monastics cultivate, learn the Dharma, and practice the Dharma, the Assembly of lay people also cultivate, learn the Dharma, and practice the Dharma, especially protect the Dharma. Taking refuge in a liberatingly brown robe and the peaceful image of the Sangha, in addition to learning Buddhism, understanding it, and practice the Dharma, the Assembly of lay people still develop their sincere hearts to protect Buddhism by offering the four things: 1. Robes or clothes, 2. Sleeping and resting things such as blankets, pillows, sleeping begs, etc. 3. Medications , and 4. Food and drink.

After the Tranquil Dwelling Course of the summer or rains Retreat ( Vassa) nearly finishes, to recreate and to look again at the tradition and the images of the Buddha’s and the Sangha’s begging for alms, the Assembly of monastics, that is, the Tranquil Dwelling practitioners go for alms around the residence for the Assembly of lay people to have a good opportunity to nurture and to develop their devout hearts of giving alms and offering pure possessions and pure belongings for the residence and for the Tranquil Dwelling practitioners.

When understanding and practicing those teachings like this, both the Assemblies of monastics and lay people travel together on the path of peacefulness, enlightenment, and freedom, and together bring authentic joyfulness and happiness to themselves and to others right in this world.

Thus, when completing the Tranquil Dwelling Course of the annual Summer or Rains Retreat ( Vassa), the Assembly of monastics have experienced one more stage of pious conduct, virtuous conduct, and wise conduct. Meanwhile, the Assembly of lay people also has acquired more merit, gratitude of virtue, and wisdom of virtue. Both of these Assemblies depend on and support one another like the image and its shadow, like water and its wave, and contribute together to bringing Buddhism into the future brightly and gloriously all over the world.

In attempting to present this writing concisely and briefly, the writer cannot avoid shortcomings, and respectfully expects the venerably honored Ones to be compassionate and joyously teaches him!

Finally, we would like to pray that the thankful blessings of the Triple Gem support and uphold you, monastics and lay people, Dharma protectors and Dharma preachers, along with all Buddhists, near and far in infinite peacefulness and infinite auspiciousness.

Namo the Original Master Sakyamuni Buddha

By Thích Trừng Sỹ

[1] Xem http://phattue.org/node/544 Kinh Tương Ưng (Saṃyutta Nikāya), Tập I, Chương Sáu: Tương Ưng Phạm Thiên

[2] Xem Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) thuộc Tương Ương Bộ (Samyutta Nikaya, 56: 11).

Xem http://www.quangduc.com/DucPhat/01ducphat6.html

[3] Xem http://giaoducphatgiaophapnhan.blogspot.com/p/giao-luu-phat-phap-buddha-dharma.html

[4] Xem Luật Tứ Phần 4, Chương III, An Cư, trang 249-250. http://www.phatviet.com/thuvien/Q4_Tuphanluat_0506.pdf pp. 249

– 250. Or, xem http://www.phatviet.com/dichthuat/luattang/yetmayc/ymyc6.HTM#_ftnref2

[5] Xem http://www.phatviet.com/dichthuat/luattang/yetmayc/ymyc6.HTM#_ftnref2

[6] Như trang web ở trên

[7] Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Uposatha

[8] Xem http://www.thuvienhoasen.org/D_2-60_1-2_4-316_5-50_14-1_6-2_15-1_17-95/

[9] Xem http://www.phatviet.com/thuvien/Q4_Tuphanluat_0506.pdf pp. 283.

[10] See Connected Discourses (Saṃyutta Nikāya), the Section of Verses (Sagatha Vagga), 6. Brahma deities (samyutta –

Brahma)

[11] See the Sutta of turning the Dharma Wheel ( Dhammacakkappavattana Sutta) of Connected Discourses on the Truths ( Samyutta

[12] See http://giaoducphatgiaophapnhan.blogspot.com/p/giao-luu-phat-phap-buddha-dharma.html

[13] See Luật Tứ Phần 4, Chương III, An Cư, trang 249-250. http://www.phatviet.com/thuvien/Q4_Tuphanluat_0506.pdf pp. 249

250. Or, xem http://www.phatviet.com/dichthuat/luattang/yetmayc/ymyc6.HTM#_ftnref2

[14] See http://www.phatviet.com/dichthuat/luattang/yetmayc/ymyc6.HTM#_ftnref2

[15] As the above mentioned web

[16] See http://en.wikipedia.org/wiki/Uposatha, http://www.accesstoinsight.org/ptf/dhamma/sila/uposatha.html

[17] See http://www.ancient-buddhist-texts.net/English-Texts/Short-Pieces-in-English/Breathing.htm

[18] See http://www.phatviet.com/thuvien/Q4_Tuphanluat_0506.pdf pp. 283.

Tác giả: Thích Trừng Sỹ

Sao Hỏa Dưới Góc Nhìn Truyền Thống

OF THE PLANET MARS, AND HIS SEVERAL SIGNIFICATIONS – William Lilly

Tên gọi

Marvors, Ares, Pyroeis, hoặc Gradivus.

Dáng vẻ

Có kích thước nhỏ hơn sao Mộc và sao Kim. Mang màu sắc sáng, chói, rực rỡ.

Chu kỳ chuyển động

Hoàn tất vòng quay quanh 12 cung hoàng đạo trong 1 năm, 321 ngày, và 22 tiếng.

Nghịch hành trong khoảng 80 ngày mỗi năm, kỳ bất động kéo dài khoảng 2 hoặc 3 ngày.

Thế của hành tinh

Tướng

Vượng

Suy

Sinh

Bạch Dương (đối với bản đồ sao ngày) / Thiên Yết (đối với bản đồ sao đêm)

Thiên Bình & Kim Ngưu

Ma Kết

Cự Giải

Các cung nước đối với các bản đồ sao cả ngày lẫn đêm.

Ích

Bạch Dương Kim Ngưu Song Tử Cự Giải Sư Tử Xử Nữ Thiên Bình Thiên Yết Nhân Mã Ma Kết Bảo Bình Song Ngư

22° – 26° 27° – 30° 26° – 30° 1° – 6° 26° – 30° 25° – 30° 25° – 30° 1° – 6° 26° – 30° 20° – 25° 26° – 30° 21° – 26°

Bình

Bạch Dương Song Tử Sư Tử Thiên Yết Ma Kết Song Ngư

1° – 10° 11° – 20° 21° – 30° 1° – 10° 11° – 20° 21° – 30°

Bản tính

Tính nam. Thuộc đêm. Nóng và khô. Nóng nảy. Điềm gở, đấng tạo ra chiến tranh, xung đột và bất hòa.

Biểu thị khi ở thế tốt

Biểu thị khi ở thế xấu

Một người tầm phào, không khiêm tốn hoặc không chân thật; thích giết chóc, ẩu đả, bóc lột; kẻ cầm đầu phiếm quân hoặc bạo động; dễ lay động như một ngọn gió; kẻ bội phản với lòng ngỗ nghịch, người bội lời thề, vô ơn, bất chính, gian lận; thô tục; manh động; phi nhân tính; không sợ trời và cũng không nể người; áp chế mọi người; tham ác, tàn bạo.

Tướng mạo

Dáng người trung bình, chắc khỏe, xương to, săn chắc hơn là mập mạp; nước da nâu, đỏ hoặc mang tông màu rất gắt; khuôn mặt tròn; tóc màu đỏ, hung hoặc nâu vàng, sợi tóc thường xoăn. Mắt nâu, màu nhạt, có cái nhìn sắc bén; biểu cảm tự tin, rõ nét, y là người chủ động và không hề nao núng.

Sao Hỏa mọc và lặn trước Mặt trời¹ biểu thị một người dũng cảm, sắc da pha trộn giữa trắng và đỏ, dáng vóc cao ráo, râu tóc rậm rạp. Sao Hỏa mọc và lặn sau Mặt trời² biểu thị một người có nước da khá đỏ, dáng vóc trung bình; đầu nhỏ, cơ thể mịn màng và không rậm rạp râu tóc; tóc vàng, cứng, ít nước trong cơ thể.

Con người và Nghề nghiệp biểu thị

Tướng quân, đại tá, thuyền trưởng hoặc chiến binh nói chung; bác sĩ, dược sĩ, thầy thuốc quân y, nhà giả kim, người săn bắn, tay bán thịt, nguyên soái, trung sĩ, quan khâm sai, đao phủ/người hành xử, kẻ cắp, thợ rèn, thợ làm bánh, thợ rèn vũ khí, nghệ nhân đồng hồ, thợ sửa giày, thợ làm tóc, thợ cạo, người bán vũ khí, thợ nhuộm, đầu bếp, thợ mộc, con bạc, kẻ săn giải thưởng, thợ thuộc da hoặc làm các công việc về da.

Bệnh tật và Bộ phận cơ thể

Túi mật, tai trái, sôt cách ngày, sốt rét, sốt cao, đau nửa đầu, mụn nhọt, những bệnh dịch và các bệnh dịch khiến một phần của cơ thể đau đớn, bỏng, lác đồng tiền (epect mảng tròn), các vết phồng rộp, mê sảng, điên loạn, những cơn loạn óc bất thình lình, vàng da, kiết lỵ, các bệnh về lỗ rò³, tất cả những chứng bệnh hoặc vết thương ở bộ phận sinh dục nam, sỏi ở thận hoặc bàng quang, sẹo hoặc vết thủy đậu nhỏ ở mặt, thương tích bởi những gì bằng sắt, giời leo, và tất cả những bệnh khởi phát do cơ thể tích tụ quá nhiều tức giận, cáu bẳn hoặc những cảm xúc mạnh mẽ.

Mùi vị

Những vị đắng, hắc, và làm bỏng lưỡi.

Màu sắc

Màu đỏ, vàng, những màu gắt và chói.

Thảo dược

Tất cả những loại màu đỏ, lá sắc nhọn, vị cay nồng; ưa mọc ở nơi khô ráo, có khả năng ăn mòn hoặc thẩm thấu vào xương thịt, khiến cơ thể nóng rát. Chẳng hạn như các loại sau: Cây tầm ma, những loại cây có gai, restharrow⁴, cây nhựa quỷ⁵, phúc bồn tử đỏ hoặc trắng, cây hắc mai, cây lê lư trắng, hành tây, cây bìm bìm, tỏi, hạt mù tạt, tiêu, gừng, tỏi tây, cải xoong cay, cây bạc hà đắng, cây độc cần, đàn hương đỏ, me, tất cả những thảo mộc dễ thu hút sự cáu bẳn bởi sự tương đồng, củ cải, castoreum⁶, rau răm, assarum⁷, cây kế thiêng⁸, cantharidin⁹.

Thực vật

Tất cả những loại cây sắc nhọn, như bụi gai hoặc cây hạt dẻ.

Động vật

Báo, hổ, chó ngao, kền kền, cáo hoặc những loài động vật hiếu chiến, dũng cảm và tàn bạo nói chung; hải ly, ngựa, con la, đà diểu, dê, sói, lừa Nam Phi, ruồi, muỗi mắt, chim te te, cockarrice – một sinh vật huyền thoại đầu gà-thân rồng, điểu sư, gấu.

Cá chó¹⁰, cá mập, cá râu, tất cả những loại sâu có vẻ ngoài gớm ghiếc, bọ cạp.

Chim ưng, kền kền, diều hâu, quạ, chim cốc, cú, đại bàng, chim toucan.

Nơi chốn

Lò luyện sắt, xưởng rèn, cửa hàng, lò nung, lò mổ, những nơi đốt than hoặc gạch, ống khói.

Chất khoáng

Sắt, antimon, asen, lưu huỳnh, bột son¹¹.

Đá

Kim cương, đá nam châm, huyết thạch, ngọc thạch anh, thạch anh tím, đá thử hợp kim [bằng cách rạch lên], đá thần sa.

Sai số

Bảy độ.

Năm

Số năm tốt nhất mà sao Hỏa biểu thị là 264. Tiếp đó là 66, trung bình là 40, và kém hơn là 15.

Tuổi tác

Thời sung mãn của tuổi trẻ, và độ tuổi từ 41 đến 56.

Ngày trong tuần

Thứ Ba, sao Hỏa bắt đầu cai quản từ giờ đầu tiên khi Mặt trời mọc cùng giờ thứ tám của ngày ấy.

Tương hợp

Tương hợp với sao Kim và xung khắc với tất cả các hành tinh còn lại. __

1. Khái niệm “oriental” trong chiêm tinh, với “orient” có nghĩa gốc là “mọc” hoặc “hiện lên”, chỉ những hành tinh đi trước Mặt trời theo chiều kim đồng hồ trong bản đồ sao. 2. Khái niệm “occidental” trong chiêm tinh, với “occident” có nghĩa gốc là “lặn”, chỉ những hành tinh đi sau Mặt trời trong bản đồ sao. Tức mọc và lặn sau Mặt trời, chỉ có thể nhìn thấy khi đêm xuống. 3. Một lỗ thông bất thường giữa hai cơ quan trống, xuất hiện do bị tật hoặc do lở loét. 4. Cây vật chủ cho côn trùng chuyên ăn nhựa cây. 5. Euphorbia peplus, một loài thực vật có hoa trong chi Đại kích 7. Có lẽ tác giả đang đề cập đến Asarum, tên một chi thực vật với thân và rễ có mùi vị giống với gừng nên còn được gọi là gừng dại trong tiếng Anh. 8. Một loại cây thân màu đỏ, thân và lá có nhiều gai, hoa màu vàng. Nicholas Turner vào thế kỉ 16 đã viết rằng không có gì để chữa trị bệnh viêm loét, đau nhức do u nhọt tốt hơn cây kế thiêng. 9.Một chất được lấy từ xác ruồi Tây Ban Nha phơi khô. Là chất độc nhưng đồng thời cũng được sử dụng như một loại chất kích thích với liều lượng nhỏ. 10. Cá chó là một loài cá ăn thịt, có nhiều ở Bắc Mỹ và Bắc Âu.  Nhiều nơi người ta còn gọi cá chó là sói nước, bạo chúa ao hồ, hay cá mập nước ngọt. Cá chó lớn có thể ăn thịt đồng loại nhỏ hơn mình, hoặc cá mái sau khi đẻ trứng có thể quay sang ăn thịt cá trống vừa thụ tinh cho trứng của mình. 11. Một chất nhuộm tự nhiên có dải màu từ vàng đến nâu.

__

Theo tài liệu cổ Christian Astrology của William Lilly từ thế kỉ 17.

Ảnh: Daily Generated Art

Hội Thảo Giáo Dục Phật Giáo Quốc Tế Biên Soạn Giáo Trình Phật Học Song Ngữ Anh

VIỆN PHẬT HỌC BỒ ĐỀ PHẬT QUỐC

BODHI BUDDHIST ACADEMY

3404 Westminster Ave., Santa Ana, CA 92703, USA.

Email: bodephatquoc@buddharealm.org

Website: chúng tôi

Tel: (714) 884-3042 hoặc (714) 804-5788

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Hội thảo giáo dục Phật giáo quốc tế – 2018

Kính gửi: Chư vị thức giả, quý Phật tử và Đồng hương.

Cộng đồng Phật giáo Việt Nam hình thành tại Hoa Kỳ đã hơn 40 năm. Những sinh hoạt văn hóa Phật giáo rất phong phú và đa dạng, tập trung nhiều nhất tại miền Nam tiểu bang California. Có khoảng một triệu người Việt tại Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng lớn bởi những sinh hoạt văn hóa này, nhưng lại chưa có một chương trình giáo dục để hướng dẫn cho người Phật tử.

Trước bối cảnh ấy, Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc được thành lập và khai giảng khóa Trung Đẳng Phật Học với sự hướng dẫn của 10 vị giáo thọ, thời gian đến nay gần đã 2 năm. Tuy kế thừa tư tưởng Phật học trên 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, lấy Kinh Luật Luận của hai hệ Nam Bắc truyền Phật giáo làm tài liệu y cứ, nhưng giáo trình này chỉ mang tính nội bộ. Do đó, chúng tôi cần có một Giáo trình hội đủ tiêu chuẩn quốc tế để phục vụ cho việc giảng dạy và hướng dẫn đời sống tinh thần cho mọi tầng lớp xã hội cũng như các cộng đồng khác ở Hoa Kỳ.

Trong tương lai, chúng tôi còn có kế hoạch hướng đến xây dựng một hệ thống giáo dục với chương trình được Bộ giáo dục Hoa Kỳ chấp nhận. Vì thế, việc biên soạn giáo trình là điều rất cần thiết và phải làm ngay từ lúc này. Do đó, nhân dịp tưởng niệm đức Phật Thích Ca đản sanh lần thứ 2642, chúng tôi trân trọng kính mời quý liệt vị hoan hỷ dành chút ít thời gian quý báu đến tham dự và đóng góp ý kiến cho:

Hội thảo Giáo dục Phật giáo Quốc tế

Biên tập Giáo trình Phật học song ngữ Anh – Việt

Thời gian: Từ ngày 7 đến 10 tháng 6 năm 2018

Địa điểm: Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc,

Sự hiện diện và đóng góp ý kiến của quý vị trong 4 ngày Hội thảo sẽ có giá trị quý báu đến việc xây dựng đời sống sinh hoạt tinh thần cho nhiều thế hệ mai sau. Cho nên, chúng tôi rất chân thành cảm ơn sự hiện diện của quý vị. Kính chúc quý vị vô lượng an vui.

California, ngày 02 tháng 3 năm 2018

Thay mặt Ban tổ chức

Lưu ý: Chúng tôi chỉ phục vụ 500 chỗ ngồi. Vì thế xin quý vị điền vào PHIẾU GHI DANH để Ban Tổ Chức tiện việc sắp xếp.

Hội thảo Giáo dục Phật giáo Quốc tế

Biên soạn Giáo trình Phật học song ngữ Anh – Việt

NGÀY 7/6/2018: LỄ KHAI MẠC (xem hình)

– 09:00AM – Cung nghinh chư Tôn đức, chào đón quý Phật tử và quan khách

– 10:00AM – Niệm Phật cầu gia bị, Tuyên bố lý do, Giới thiệu thành phần tham dự

– 10:15AM – Tuyên đọc diễn văn Khai mạc

– 10:30AM – Đạo từ, Huấn từ, của chư Tôn đức và Giáo sư Chủ tịch Hội thảo

– 11:15AM – Phát biểu của các vị Dân cử

– 11:45AM -Lễ Khánh Đản PL.2562 và Tắm Phật

– 12:30PM – Thọ trai, Cung tiễn chư Tôn đức và Quan khách

– 01:30PM – Thiền tọa và niệm Phật kinh hành

– 02:30PM – HỘI THẢO: NHÓM DIỄN GIẢ 1

+ Tìm hiểu về nền giáo dục Phật giáo cổ xưa tại Trường Đại Học Nalanda- Thầy Minh Trong

+ Giáo trình Phật giáo Việt Nam xưa và nay – Ni sư Tịnh Quang

+ Ba nguyên tắc của Giáo dục Phật giáo – Thầy Thanh Nguyên

+ Vài gợi ý hướng đi cho một nền Giáo dục Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ – Thầy Hạnh Tuệ

+ Văn Tư Tu – Thầy Minh Hạnh

+ Đâu là lời Phật dạy – Thầy Minh Khánh

+ Xây dựng Đại Học Phật Giáo tại Hoa Kỳ : Cơ Hội và Thách Thức – Thầy Huyền Châu

– 10:00AM – HỘI THẢO: NHÓM DIỄN GIẢ 2

– Đề tài 1: Buddhist Education and the Two Truths (Nhị Đế và Giáo Dục Phật Giáo)

+ Diễn giả: Giáo sư Victor Gabriel, Trưởng khoa Tuyên úy Phật giáo, đến từ University of the West.

– Đề tài 2: Impact of Digital Technology on Buddhist Education (Ảnh hưởng của công nghệ số đối với Giáo dục Phật giáo)

+ Diễn giả: Giáo sư Miroj Shakya, Giáo sư Khoa Tôn giáo học, cộng tác viên Dự Án Số Hóa Tam Tạng Kinh Kiên Tiếng Sanskrit, đến từ trường University of the West.

– Đề tài 3: Spiritual Presence & Development In Budhist Education: Awareness , Contemplation, and Reflection (Hiện Hữu và Phát Triển của Tâm Linh trong Giáo Dục Phật Giáo: Nhận thức, Tư Duy, và Phản ảnh)

+ Diễn giả: Giáo sư Jitsujo T. Gauthier, Giáo sư Khoa Tôn giáo học, đến từ trường University of the West.

– 12:30PM – Thọ trai

– 01:30PM – Thiền, niệm Phật kinh hành

– 02:30PM – HỘI THẢO: NHÓM DIỄN GIẢ 3

– Đề tài 4: Buổi nói chuyện của Ven. Shumyo Kojima – Head Minister of the Zenshuji Soto Mission

– Đề tài 5: Empty Temple, Silent Bells (Chùa Không, Chuông Tịnh)

+ Diễn giả: Hoà Thượng Thích Ân Giáo, Viện Chủ Trung Tâm Thiền Thiên Ân, Lucerne Valley, CA

– Đề tài 6: Curricula and the Goals of Buddhist Education in Sipsongpanna, Thailand and Singapore (Giáo Trình và Mục Đích của Giáo Dục PG tại Sipsongpanna, Thái Lan và Singapore)

+ Diễn giả: Giáo sư Thomas Borchert, đến từ trường University of Vermont, VT

– 10:00AM – HỘI THẢO: NHÓM DIỄN GIẢ 4

– Đề tài 7: Learning Goals as Aspirations for Teachers and Students (Mục đích của việc học là nguyện vọng của Giáo Sư và Học Viên)

+ Diễn giả: Giáo sư Karen Derris, đến từ trường University of Redlands, CA

– Đề tài 8: Comparatively Speaking: Reflections on Buddhists, Catholics, and Education (Nói theo cách tỷ giảo: Suy nghĩ về nền Giáo dục của Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo)

+ Diễn giả: Giáo sư Karma Lekshe Tsomo, đến từ trường UC San Diego, CA

Đề tài 9: Education and Social Change: Curricular Objectives at the International Network of Engaged Buddhist’s Institute (Giáo dục và sự cải cách trong xã hội: Những mục tiêu của Học trình của Học Viện Quốc Tế Liên Mạng của Phật Giáo Tiếp Hiện).

+ Diễn giả: Giảng viên Jordan Baskerville, đến từ trường University of Wisconsin-Madison, WI

– 12:30PM – Thọ trai

– 01:30PM – Thiền, niệm Phật kinh hành

– 02:30PM – HỘI THẢO: BUỔI NÓI CHUYỆN CỦA GIÁO SƯ HỌC GIẢ TRÍ SIÊU – LÊ MẠNH THÁT

– 05:30PM Hoàn mãn.

– 10:00AM – Niệm Phật cầu gia bị, Diễn văn Bế mạc

– 10:15AM – Ban thư ký Tổng kết Hội thảo

– 11:15PM – Ra mắt Ban biên soạn Giáo trình Phật học song ngữ Anh – Việt

– 11:30PM – Đại diện Ban Biên soạn giáo trình phát nguyện trước Đại chúng

– 12:00PM – Huấn từ của Giáo sư Chủ tịch hội thảo.

– 12:30PM – Thọ trai

– 01:15PM – Thiền, niệm Phật kinh hành

– 02:30PM – Lễ Khai Giảng năm 3: (Có chương trình riêng)

– 04:00PM – Cảm tạ của Ban tổ chức

(Nguồn: www.bodephatquoc.org)

Kính mời xem hình ảnh Lễ Khai mạc

Phần 1: Lễ Khai Mạc Cuộc Hội Thảo Giáo Dục Phật Giáo Quốc Tế Biên Soạn Giáo Trình Phật Học Song Ngữ Anh

Sau hơn 3 tháng chuẩn bị, vào sáng thứ năm, ngày 07 tháng 06 năm 2018 tại Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc đã diễn ra Lễ khai mạc cuộc Hội thảo Giáo dục Phật giáo Quốc tế Biên soạn Giáo trình Phật học song ngữ Anh – Việt (Từ ngày 7 đến 10/6/2018). Về tham dự Lễ khai mạc, có sự quang lâm của đông đảo chư tôn đức Tăng, Ni, và sự hiện diện của các giới chức dân cử tiểu bang California, thành phố Santa Ana, thành phố Westminster, đại diện các hội đoàn, đoàn thể, tổ chức, cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí, và đồng hương Phật tử tại Quận Cam.

Chương trình Lễ Khai mạc được điều hợp bởi TT. Thích Minh Hạnh, Phó Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc.

Trong phần giới thiệu chư tôn đức Tăng, Ni chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của Giáo sư Học giả Trí Siêu – Lê Mạnh Thát, Chủ tịch Hội thảo; HT. Thích Pháp Tánh, HT. Thích Minh Tuyên, HT. Thích Viên Lý, HT. Thích Quảng Thanh, HT. Thích Như Minh; TT. Thích Nguyên Tâm, chư Tôn Tăng Ni trong Ban giám viện, Ban giáo thọ tại Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, cùng với sự hiện diện hơn 90 chư Tôn Đức Tăng Ni tại Orange County. Về phía cộng đồng Việt gồm có ông Tạ Đức Trí, Thị trưởng thành phố Westminster và các nghị viên các giới chức dân cử thành phố Santa Ana.

Qua diện văn Khai mạc, TT Thích Huyền Châu, Trưởng Ban Tổ Chức kiêm Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, đã bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với Chư Tôn đức Tăng, Ni đã quang lâm chứng minh, và chân thành cảm tạ quý đại diện giới chức dân cử tiểu bang, thành phố Santa Ana, thành phố Westminster, các hội đoàn, đoàn thể, tổ chức, cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và đồng hương Phật tử đã hoan hỷ tham dự. Thượng tọa đã nói lên tầm quan trọng của việc biên soạn Giáo trình như sau: cộng đồng Phật giáo Việt Nam đã có mặt tại vùng nam California, Hoa Kỳ hơn 40 năm, có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa Phật giáo phong phú đa dạng và có sự kế thừa nền giáo lý của hai hệ Nam Bắc truyền Phật giáo hơn 2600 năm. Đặc biệt, nhờ sự gia hộ của chư Tôn Đức Tăng Ni nên Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc được thành lập và mở ra lớp Trung đẳng đã 2 năm. Tuy dùng 2 hệ giáo lý Nam, Bắc truyền để giảng dạy, nhưng giáo trình chỉ mang tính nội bộ, nếu muốn xây dựng Trường Đại học Phật giáo thì trước tiên bộ giáo trình phải được hoàn thành.

Tiếp đến, HT Thích Viên Lý đã ban đạo từ cho buổi lễ. Hòa Thượng Thích Quảng Thanh ban huấn từ. Sau đó Hòa Thượng Thích Pháp Tánh, Hòa Thượng Thích Minh Tuyên ban cũng ban cảm từ trong buổi lễ.

Thị Trưởng Tạ Đức Trí, đại diện các vị dân cử lên Lễ đài phát biểu cảm tưởng. Thị trưởng Trí Tạ cho biết rằng ông rất vui khi thấy đây là một việc làm có ý nghĩa trong cộng đồng Phật giáo tại Nam California. Ông bày tỏ ngưỡng mộ lời phát biểu chân tình và tràn đầy ý nghĩa của của chư Hòa thượng. Ông rất yêu thích các triết lý Phật giáo về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Uẩn….

Tiếp theo đó là Nghi lễ Khánh đản ,Nghi thức Tắm Phật tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa.

Sau lễ là phần thọ trai nghỉ ngơi chuẩn bị Hội Thảo buổi chiều.

Ban thư ký Hội thảo Viện Phật Học Bồ Đề Phât Quốc

Ban thư ký Hội thảo Viện Phật Học Bồ Đề Phât Quốc

Bạn đang đọc nội dung bài viết Truyền Thống An Cư Trong Đạo Phật (Song Ngữ) trên website Duhoceden.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!